Đến với nhau từ những cuộc tình đổ vỡ hơn 70 năm về trước, họ kéo nhau vào sống trong rừng để tránh lời dị nghị. Và từ đó đến nay hai trái tim vàng vẫn sống trong túp lều lí tưởng ở giữa đại ngàn chẳng muốn rời xa.
Từ ngàn đời nay, câu
thành ngữ "một túp lều tranh hai trái tim vàng" như một hình ảnh đẹp của
tình yêu lứa đôi. Những tưởng câu nói đó chỉ mang tính biểu tượng nhưng
trong một lần băng rừng xanh núi đỏ nơi đại ngàn Tân Sơn (Phú Thọ),
chúng tôi đã không hẹn mà cùng rớt nước mắt cảm động cho một chuyện tình
đẹp như cổ tích của đôi vợ chồng già năm nay đã ngoài 90 tuổi.
Sống hoang sơ giữa rừng
Lần ấy, dẫn đường cho
chúng tôi vẹt rừng đạp núi để tìm đến căn lều đơn sơ nằm cách đường mòn
cả chục ki lô mét là anh Hà Văn Viên (SN 1968, ở thôn Mành, xã Văn
Luông, huyện Tân Sơn, Phú Thọ). Anh Viên là trưởng thôn Mành nên tường
tận về cuộc đời hai cụ Hà Văn Nghệ (91 tuổi) và Hà Thị Lênh (85 tuổi),
những người gần 70 năm qua sống bình lặng trên một góc rừng sâu thuộc
địa giới hành chính của thôn nơi anh phụ trách.
Bì bõm hướng dẫn
khách từ dưới xuôi lội qua những khe nước sâu lạnh buốt, anh Viên vừa đi
vừa hào hứng kể về cuộc sống của hai cụ Nghệ và Lênh, những con người
cho đến nay đã trở thành niềm tự hào của thôn bản về một tình yêu giản
dị nhưng bền chặt đến khó tin.
Chuyện tình của hai cụ đã làm lay động nhiều trái tim người dân thôn Mành.
Theo đó, hai cụ Nghệ và
Lênh có với nhau tất thảy 6 mặt con, đều đã trưởng thành và bươn chải
ra ngoài xã hội nhưng kinh tế chẳng lấy gì làm khấm khá. Cũng có một
thời gian ngắn, nghe lời người con cả, hai vợ chồng cụ Nghệ chuyển ra
ngoài bìa rừng (vẫn ở trong xã Văn Luông - PV) sống quây quần với các
con.
Nhưng bởi quá đau lòng
khi chứng kiến con cháu vẫn phải chạy ăn từng bữa, hai cụ quyết tâm trở
lại rừng sâu, quay về túp lều đã gắn bó với mình nhiều chục năm để tự
rau cháo nuôi nhau qua ngày. Theo anh Viên, vì địa hình cách trở khó
khăn nên trong khu rừng hoang sơ ấy giờ chỉ còn duy nhất vợ chồng cụ
Nghệ sinh sống. Chẳng điện, cũng chẳng nước máy, hai vợ chồng cụ sống
chủ yếu bằng tình thương yêu dành cho nhau trong những bữa rau rừng đắng
ngắt.
Khác những gì tôi vẫn
hình dung về một căn nhà sàn vững chãi vẫn được xây cất theo kiểu của
người dân tộc thiểu số với gỗ và tre nứa, túp lều nơi hai cụ già nay đã
"gần đất xa trời" chỉ được cất tạm bợ bằng phên nứa và cỏ tranh trong
một diện tích đất hẹp được rào sơ sài bằng thân cây sắn khô và cành tre.
Đã ở cái tuổi "xưa nay hiếm" lại sống trong cảnh thiếu thốn đến như
vậy, không hiểu hai con người ấy sẽ xoay sở thế nào trong những cơn mưa
rừng khủng khiếp xứ này?
Theo lời chia sẻ từ anh
Viên, hai cụ ở trong căn lều ấy rất khốn khổ. Trời hè nóng nực đã mệt
mỏi, mùa đông buốt giá lại càng khổ hơn, gió lùa qua phiên nứa mỏng rít
lên từng chập khiến hai thân già càng phải nằm sát bên nhau lấy hơi ấm.
Thế nhưng hai cụ vẫn luôn sống hạnh phúc bên nhau, đến nay đã được 70
năm có lẻ.
Mặc dù đã 91 tuổi,
nhưng cụ ông Hà Văn Nghệ vẫn rất khỏe mạnh và minh mẫn. Cụ vẫn cày bừa
được và trồng rau nuôi lợn. Còn cụ Lênh cũng không hề kém cạnh, vẫn tay
liềm tay cuốc thoăn thoắt trên những mảnh đồng xa.
Ngồi bên cạnh tôi, anh
Hà Văn Viên vẻ mặt rạng rỡ, "khoe khéo" rằng những thửa ruộng nơi hai cụ
canh tác luôn sạch sẽ đến từng li từng tí. Đánh mắt quan sát quanh căn
lều nhỏ, ngoài chiếc chăn bông để đối phó với cái lạnh cắt da cắt thịt
vùng rừng sâu mỗi khi đông về, hầu như không có bất cứ vật dụng nào của
xã hội văn minh xuất hiện tại căn lều dột nát.
70 năm chỉ một lần to tiếng
Trong lúc đưa ánh mắt
ngưỡng mộ nhìn ngắm hai con người tưởng rằng chỉ có trong cổ tích, tôi
nhận thấy tình yêu hai cụ dành cho nhau lớn lao đến vô cùng. Cụ Nghệ tai
nay đã không còn được tinh anh nữa, chúng tôi phải nói to hơn bình
thường cụ mới có thể nghe và hiểu được.
Ngồi bên cạnh, cụ Lệnh
im lặng quan sát và lắng nghe cuộc hội thoại, những chỗ cụ ông lãng tai
không nghe rõ, cụ bà lại nhẫn nại nói lại từ đầu, giọng đầy trìu mến.
Theo lời kể, hai cụ chẳng mấy khi rời rừng, sống hoàn toàn bằng động vật
mình tự nuôi và rau mình trồng.
Để giữ thịt qua mùa hè
nóng, cụ Nghệ bọc thịt vào một túi nilon kín, buộc dây rồi thả chìm
xuống dòng suối sâu gần nhà. Lúc nào cần ăn cụ lại kéo lên xẻo một miếng
rồi lại thả xuống. Theo lời giải thích, dưới đáy nước rất lạnh, có khả
năng giữ tươi thịt cả tuần lễ.
Sau khi tin cẩn những
khách lạ do đích thân người trưởng thôn dẫn tới, cụ Nghệ vui vẻ dựa lưng
vào vách tường, kể với chúng tôi lại toàn bộ cuộc tình đầy chông gai
của hai người. Theo lời kể, cả hai người đến với nhau sau khi mỗi người
đã có một cuộc hôn nhân trước đó. Cụ Nghệ đã có vợ và có 3 người con,
còn cụ Lênh bị gia đình ép lấy chồng khi đã là thiếu nữ còn người chồng
chỉ mới hơn 10 tuổi.
Cụ Lênh bồi hồi nhớ
lại: "Thời đó, bỏ chồng là một điều gì đó vô cùng khủng khiếp và bị cả
dân làng dè bỉu. Nhưng gia đình tôi bắt tôi lấy chồng khi tôi không có
tình yêu và lúc đó chồng tôi cũng chỉ là một đứa trẻ. Một lần đi làm
đồng, tình cờ gặp ông Nghệ đây rồi chúng tôi phải lòng nhau từ lúc nào
không hay. Biết ông có vợ con rồi nhưng tôi vẫn thấy yêu ông và quyết
tâm theo ông về làm vợ hai".
Việc cô gái trẻ từ bỏ
nhà chồng để theo một cuộc tình mới gây náo loạn cả một làng quê mà cho
đến bây giờ vẫn còn nặng nề về các lễ giáo phong kiến. Cụ Lênh ngay lập
tức bị đem ra để làm đủ các thủ tục phạt vạ và người chịu những điều đó
không ai khác chính là cụ Nghệ.
Cụ Nghệ đã phải nai
lưng đi làm không công cho làng suốt nhiều năm trời nhằm để cứu cô gái
trẻ Hà Thị Lênh ra khỏi một cuộc hôn hân bất hạnh. Kể từ sau đận ấy, cụ
Lênh chính thức trở thành người một nhà với người đàn ông hơn mình 6
tuổi. Tục lệ thời ấy vẫn cho phép đàn ông đa thê nên cụ Lênh về làm vợ
lẽ, sống hòa thuận với cụ Nghệ cùng vợ cả trong căn nhà nhỏ.
Thế nhưng do không thể
chịu đựng được sự soi mói của láng giềng xung quanh việc "dung túng" cho
một đứa con gái "trốn chồng theo trai", cụ Nghệ quyết định bàn bạc với
hai người bạn đời chuyển nhà vào tận trong rừng sâu sinh sống để được
yên ổn.
Những ngày đầu tiên, do
chưa thích nghi được với điều kiện khắc nghiệt và thiếu thốn, cả ba
người cùng bầy con nhỏ đã cực khổ rất nhiều. Rồi một điều đáng tiếc đã
xảy đến khiến cụ Nghệ bây giờ vẫn còn ân hận mãi, đó là người vợ cả của
cụ, chẳng may vì rừng thiêng nước độc mà ngã bệnh rồi mất sau đó không
lâu. Túp lều tranh giờ chỉ còn cụ Nghệ và người đàn bà đã mang tiếng xấu
với cả thôn bản.
Vượt qua bao nỗi khó
khăn, hai cụ sống rồi lần lượt sinh hạ thêm 6 người con khác rồi dựng vợ
gả chồng ngay tại chính căn lều nhỏ ọp ẹp này. Nói về chồng mình, cụ
Lênh tự hào: "Sống với nhau ngần ấy năm, tôi chỉ bị ông nặng lời đúng
một lần, đó là lần tôi chẳng may đánh đổ siêu nước vào chân một người
con của chị vợ cả. Ông mắng rồi ôm cả tôi và cháu bé vào lòng rồi tất cả
cùng khóc. Bây giờ nghĩ lại tôi vẫn thấy mình thật vụng về và đáng
trách".
Cũng trong ký ức rõ nét
của hai người, vì là những người làm nông nên hai cụ có sức khỏe rất
tốt, chẳng mấy khi đau ốm. Giờ đây, chứng kiến con cái trưởng thành
nhưng vẫn kinh tế vẫn khốn khó, hai cụ đau lòng lắm nhưng đành bất lực,
chỉ biết giúp các con bằng cách không dám cậy nhờ đến ai, chỉ hai thân
già lặng lẽ đùm bọc nhau trong mái lều trống hoác giữa đại ngàn gió
lạnh.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét